![]() |
| | #1 (permalink) |
| † Địa Ngục Trần Gian † Gia nhập: Jan 2006 Nơi cư ngụ: CầnThơ ViệtNam
Bài gởi: 8,527
Thanks: 1
Thanked 386 Times in 298 Posts
| Kỉ Năng Nhận Biết Các Dòng Nhạc: Nhạc Dance có thể chia làm khá nhiều loại. Những band như AQUA, Toy-Box, Cartoons DK,... ko chơi nhạc Dance chính hiệu mà chỉ là Pop Dance. Một ban nhạc dance có thể nói là khá hay là Venga boys. Nhạc Dance chính hiệu thường hát rất ít, có khi là ko hát. Nhạc Dance với âm thanh chủ đạo là âm thanh điện tử với tempo thật nhanh và tiếng trống liên hồi. Một loại nhạc DAnce khá phổ biến hiện nay là Hamster Dance, gần giống với Techno. Hamster Dance có tempo khá nhanh nhưng khó bắt nhịp hơn so với Techno. Techno lại có nhiều loại riêng. Ko phải techno nào cũng có nhịp điệu nhanh và sôi nổi. Đại diện của loại techno khó nghe này là Bjork với những âm thanh đầy ma quái. Nhạc techno hiện đại thì lại thích hợp với những điệu nhảy uốn éo người trong các vũ trường. Đặc biệt, nhạc Dance có một điểm đáng chú ý: mở volume càng lớn thì nghe càng hay và càng cảm thấy bốc! Nhạc Dance thì chính thức có thể chia làm các loại sau đây: —Techno —Trance —House —Drum 'n' bass —Trip hop —Electronica Industrial —Ambient —TriBal —UnderGround Techno thì âm thanh điện tử là chủ yếu, nên khi nghe ko có cảm giác thật mà nghe rất là techonlogical! Nghe như tiếng máy móc vậy, và nhịp đập trống nghe rất to và dồn dập. Một bài techno đề nhảy thì thường khá dài, mở đầu bằng một tiếng Ầm rồi một vài tiếng thì thầm, có một số đoạn chỉ có duy nhất một tiếng của một loại nhạc cụ nhưng ta vẫn cảm nhận được giai điệu dồn dập của nó. Nhạc techno có 2 đại diện khá nổi tiếng là Moby và Fat Boy Slim. Còn Dance thì chỉ có giai điệu sôi động và tempo nhanh nhanh một chút thôi. Dance là các bài dạng như Roses Are Red của AQUA, Vengaboys,... HOUSE: Trong tất cả các hình thức của nhạc nhảy điện tử, có thể nói rằng nhạc House có truyền thống phong phú nhất về các DJ màu mè và các CLB huyền thoại. Âm thanh này phát triển vào cuối thập niên 70 khi những DJ bắt đầu có óc cải cách, lại thông hiểu về kỹ thuật, chạm trán với bối cảnh nhạc disco bình dân của những tay, đa phần là da đen, dân đồng tính ở Chicago và New York. Những DJ đầu tiên như Larry Levan tại Paradise Garage (New York) hoặc Frankie Knuckles tại Warehouse (Chicago) thường cho chơi đi chơi lại (loop) các đoạn solo trống trong các đĩa nhạc disco, nhằm cung cấp nhiều giờ nhạc nhảy liên tục. Nhiều người cho rằng tên "house" xuất phát từ chữ Warehouse là nơi mà loại nhạc này được định hình. House được nhận diện bằng tiết điệu 4/4 bới tiếng bass đập thật mạnh và đều đặ thường chảy với tốc độ 125 nhịp/phút. Cấu trúc này cho phép được cách tân, do vậy những thể loại khác bắt nguồn từ house luôn được sản sinh. Ở CLB Body and Soul (New York), R'n'B và Soul được pha chế với nhau để tạo ra diva house hoặc garrage house. Trong khi đó lại CLB Twilo, tay DJ người Anh tên Carl Cox lại pha đậm loại nhạc techno vào house để tạo ra tech-house. Nhạc salsa cũng thường được nghe theo cách pha trộn như vậy trong một xuất nhạc Latin-house. Basement Jaxx là bộ đôi DJ nhạc house, đã phát hành album đầu tay Remedy với hãng đỉa Astralwerks. Trong album này, sự pha trộn âm thanh của flamenco guitar, chất giọng soul và tiếng bassline ầm ĩ thậ lớn đã khiến một số nhà phê bình bốc đồng, buột miệng nói đến thời phục hưng của house. Và trong khi những người tận tuỵ với house, ko hề cạn kiệt hứng thú với thể loại này trong 15 năm qua, lấy làm buồn lòng vì những lời đó ám chỉ rằng "thời của House đã qua rồi". Đĩa này chỉ thực sự tạo được chú ý vừa đủ để đến với các giới thưởng thức mới và bao quát hơn - những fan của dòng nhạc chính thống. "Bên trong khuôn khổ của thể loại house", Felix Buxton của Basement Jaxx nói, "bạn có thể làm được rất nhiều điều. Có rất nhiều chất nạc xoay quay tempo đó. Như thể quả tim của bạn, nhịp đập của nó ít nhiều là nhịp bước của cơ thể bạn. Chỉ cần tạo ra một cú hích nhẹ, chất nhạc sẽ đến rất tự nhiên vì house là nhịp điệu của tự nhiên. Nếu bạn đã từng nghe nhiều loại nhạc của các CLB ở Châu Phi, bạn cũng nhận thấy đó là loại âm thanh thuần nguyên, nhạc của những cảm xúc nhât thời của con người. House có được kiểu tempo như vậy". Tóm lại, house có một tempo khá nhanh, tiếng bass và tiếng trống là chủ đạo, là lớn nhất và nghe khá dồn dập. Đó là điểm cơ bản để phân biện được house. TECHNO: Techno có thể là một thuật ngữ dễ gây nhầm lẫn vì thực chất nó xuất hiện trước electronica như là một cụm từ tổng quát nói về loại nhạc điện tử, và ngày nay thuật ngữ này vẫn được dùng cho các hiểu này. Nguồn gốc nhạc techno bắt nguồn từ việc tạo ra cấu trúc metallic pop của ban nhạc synthesizer Đức Fraftwerk. Các đĩa cho Kraftwerk sáng tác trong thập niên 70 và 80 đều được các nhà cải cách techno Mỹ trích dẫn như là nguồn cảm hứng của họ. Đặc biệt phải kể đến bộ ba DJ người Detroit trong giữa thập niên 1980 - Juan Atkins, Derrick May và Kevin Saunderson - phát triển và tinh lọc loại giai điệu tổng hợp đã được ban nhạc Đức này dùng để thử nghiệm, chấm phá vào một chút funk và vay mượn thêm từ bối cảnh âm thanh công nghiệp của vùng Detroit. Ngày nay, hầu hết các Dj đeo đuổi nghiệp techno đèu có liên quan đến loại nhạc có những tiếng đập nghe hối hả và nhịp chuyển tương đối nhanh, được biểu thị bằng những tiếng trống điện nện thình thịch liên tu bất tận. Nếu House là nhạc nhảy để tán dương con người thì techno là thể loại ca ngợi máy móc - "chát chúa", "vô hồn" hoặc "không thương xót" là những từ mà các dj của techno có thể hãnh diện là đã được dành ra để gọi riêng cho những âm thanh của họ. Các biến thái từ vòng lập này đến vòng lập khác nhìn chung ko khác nhau là mấy, nhưng ngược lại, với house hoặc big beat, người ta có thể thấy âm thanh của loại nhạc này biến đổi nhanh chóng, chỉ một thoáng lấy đà là chúng đã đạt đến cường độ mạnh hơn trước rất nhiều. Richie Hawtin, là tên thật của dj Plastikman, người đã mở đường để định nghĩa cho nhạc techno ngày nay. Trong một album của anh, Decks EFX & 909, Hawtin dùng 2 bàn xoay (deck), một số mô đun hiệu ưng đặc biệt (EF Tóm lại, techno là một loại nhạc được làm bằng điện tử, máy móc từ A đến Z, nghe rất dễ phân biệt những âm thanh điện tử, thường có những tiếng "chíu chíu" như trong các trò chơi video game. TRANCE: Trance về cơ bản là House, đôi khi còn được nhắc tới dưới cái tên epic hay progessive house, nhưng nhấn mạnh vào tiếy điệu mê hoặc và giai điệu đẹp. Các sáng tác trance đều tiên tiến hóa từ bối cảnh "rave" và house trong thập niên 90, nhưng giai điệu gợi nhớ của chúng lại từ một nguồn khác, đó là synth-pop giữa thập niên 80 của các nhón như New Order. THử lắng nghe ca khúc Blue Monday của New Order và bạn sẽ nghe được cách sử dụng giai điệu điện tử siêu thoát tương tự. DJ hàng đầu của Trance kiêm nhà sản xuất Paul Van Dyk, thừa nhận là anh đã chịu ảnh hưởng từ New Order. Sasha, một tay DJ nhạc trance, cùng với John Digweed đóng đô tại Twilo (Manhattan), biểu diễn một suất kéo dài 8 tiếng đồng hồ vào đêm thứ 6 cuối cùng của mỗi tháng. "Nó là loại nhạc rất du dương, rất sảng khoái, rất mơ màng", Sasha giải thích, "Nhưng nó cũng mãnh liệt và có những giây phút vô cùng dữ dội, chuyển từ sáng sang tối, từ cứng sang mềm". Khi anh chơi, Sasha tạo ra và lại hủy cấu trúc của tempo - tăng cao hoặc giảm thấp mức độ năng lượng của một party - có đến hàng chục lần như vậy trong một đêm. "Khi John và tôi bắt đầu trình diễn âm thanh này cách đây vài năm, nó được gán cho là nhạc epic house của Anh. Loại nhạc này tạo ra một ko gian âm thanh rất điện ảnh, với mức chất lượng gần như vậy. Nhiều đĩa Trance có vẻ như là chỉ có một dj duy nhất phô diễn tài nghệ của mình dù rằng còn nhiều dj khác nữa. Bạn có khúc intro, khúc build-up, khúc breakdown rồi lại một đoạn khác nữa". Chất lượng âm thanh như trong điện ảnh có tác động rất lớn đối với hệ thống âm thanh trầm đục ngân vang trong các CLB lớn. Sasha nói chiều dài của một suất dj maraton của anh cũng là vấn đề quan trọng. "Chính việc pha chế âm thanh kéo dài 5, 6 tiếng, thậm chí có thể lâu hơn, đã cuốn hút bạn. Bạn có thể trộn chung một đống đĩa house với nhau và tạo ra một âm thanh có chất lượng tương đương như trance. Đó là những gì tôi và John tìm kiếm trong đĩa của mình - những âm thanh mê hoặc làm bạn ko dứt ra được". Nói chung, nhạc Trance về cơ bản vẫn là house, nhưng giai điệu được chú trọng hơn và thường dài hơn Sao lại gọi là UnderGround? Underground là một thuật ngữ theo nghĩa bóng là những thứ gì hơi illegal một chút. Như kiểu tổ chức dance event mà ko có giấy phép của Sở văn hoá ấy.Rất dễ hiểu phải không? Còn về phần underground music, theo mình biết các DJ và người nghe ở HN hay truyền tụng nhau về dòng underground nhưng thực chất nó chỉ là gồm tribal house, progressive house, tech-house, techno.... là những thứ mà ở các club HN và các DJ hiện nay rất thích nên họ đặt cho cái tên như thế. Rộng hơn Underground music có thể gồm có alternative rock, nu-metal, hip-hop, r''n''b.... thậm chí cả pop, nó sẽ là những hits hot nhất ko phải chỉ ở trên các phương tiện media thông tin đại chúng mà còn là của một sub-culture nào đó mà đại đa số dân tình trong cái tiểu văn hoá đó rất thích và ưa chuộng mà những ngoại đạo thường ko hiểu và ko biết TRANCE MUSIC Trong các dòng thuộc hệ Electronic music thì Trance có lẽ là nhánh được ưa chuộng nhất, từ các party nhỏ hay những discotheque nổi tiếng Trance luôn luôn có chỗ đứng riêng và thật sự tạo được sự khác biệt. Nhạc Trance thường được coi như một loại nhạc để nhảy ở discotheque, thực sự thì không phải vậy , nếu chỉ nghe để nhảy thì bạn mới chỉ biết được 30% những điều kì diệu mà nhạc Trance mang lại. Hãy thử tắt đèn ,ở trong bóng tối , yên lặng , nhét đĩa In Search of Sunrise 3 của DJ Tiesto và nghe hết tất cả 15 bài với thời gian 79’ 38” – nếu có thể - bạn sẽ phải thay đổi phần nào quan niệm của chính mình về nhạc Trance và với những ai chưa biết gì , thật sự đó là một điều mới lạ mà bạn chưa từng cảm thấy bao giờ. Để nhịp trống , giọng hát, những âm thanh được tạo ra bẳng tất cả nhạc cụ điện tử trừ giọng hát làm cho bạn cảm thấy như đang đi vào một thế giới khác , một thế giới không có trong từ điển ,không thể tả nổi và chỉ biết nói rằng : đó là thế giới mà tôi ưa thích . Đó là những cảm giác mà tôi thật sự có khi nghe đĩa nhạc này , đây mới chỉ là một trong số rất nhiều compilation mix CDs của DJ Tiesto – DJ số một thế giới hiện nay. Một DJ thường được gọi là remixer , mixer hoặc là producer , một DJ giỏi thường là người có thể có được 3 kĩ năng trên Remixer : là những DJ chuyên đi remix những bản single sao cho phù hợp với một compilation mix của anh ta hoặc cho một rave party hay cho discotheque , do vậy 1 single khi tung ra có thể được các remixer mix lại theo rất nhiều kiểu khác nhau. Mixer: là DJ gần như remixer nhưng khác một chút là anh ta không chỉnh sửa nhiều bản gồc của một single nào đó mà chỉ chọn và mix các single hoặc remix song với nhau : đây được gọi là một compilation mix CD . Anh ta sẽ mix khỏang từ 15 – 20 track của các DJ khác nhau cho một CD và compilation disk thường là double CDs , nên biết rằng 1 compilation thường có thể tua được theo từng track như những CD bình thường nhưng những track đó sẽ liền tù tì với nhau (non-stop) từ track đầu tiên cho tới track cuối cùng. Một compilation mix được coi là hay khi người nghe không muốn skip bất cứ track nào trong CD đó và compilation mix bao giờ cũng được mix theo chủ để và chủ đề đó chính là tên CD và mang phong cách của DJ đó. Ví dụ có tên một bài hát trong compilation disk được ghi như thế này : Southern Sun – Paul Oakenfold (DJ Tiesto Remix) thì ta sẽ hiểu như sau: đây là bài Southern Sun được produced by DJ Paul Oakenfold và được DJ Tiesto remix lại . Producer : là DJ trực tiếp sáng tác , mix một bài hát của riêng mình từ khâu chọn kiểu nhạc , chọn âm thanh , chọn giọng hát. Có thể nói công việc tạo ra 1 album riêng của một DJ thật sự rất khó khăn, chỉ mãi mãi là nhịp 4/4, âm thanh thì đều do máy tính tạo ra, chọn chủ đề của bài hát , của album sao cho phù hợp và có sự gắn kết liên tục giữa các bài hát là công việc đòi hỏi trình độ cực cao và nhạy cảm với thời đại. Thông thường thì 1 album riêng của 1 DJ như thế chỉ có từ 8 -12 bài chứ không được nhiều như compilation CDs nhưng về độ dài của CD thì ngang nhau vì những bản gốc thường rất dài : từ 6’ – 12’/bài. Nếu nhạc của anh ta sáng tác hay thì trong các sàn nhảy nó sẽ được remix cho hợp với sàn nhảy , các DJ khác sẽ lấy single đó của anh ta cho compilation của chính mình. Do vậy 1 single có thể có rất nhiều bản remix khác nhau , do các DJ khác nhau remix hoặc do chính tác giả của nó remix để play tại party hay discotheque. Có thể nói việc sáng tác single là một việc không chỉ tạo phong cách cho tác giả mà còn là mang lại những nét độc đáo của các DJ khác khi các DJ đó lấy single cho compilation disk. Một đĩa nhạc Trance cho dù là album hay compilation mix thì đều dài cả , hiềm có CD nào lại dài dưới 60’ . Độ tuổi nổi tiếng của một DJ thường thấy là từ 25-35 tuổi , sau khi đã bôn ba đi khắp các sàn nhảy , làm DJ cho các party , dance event thì lúc đó các DJ mới tính chuyện làm compilation hay album riêng cho mình .Trong thời gian từ 5-10 năm đầu tiên khi mới bước vào nghề DJ thì họ chỉ sáng tác những single và sau đó mới ghép lại thành một album riêng TRANCE & Praty DJ EURO/UPLIFTING/HARD TRANCE: thường là từ 140 – 145 bpm (bmp = beats per minute) và tiếng bass khá nặng kèm theo đó là một female vocal. Những DJ hay chơi dòng này là Kai Tracid, Cosmic Gate, ATB,.... PROGRESSIVE TRANCE: Không phổ biến như EURO/UPLIFTING/HARD TRANCE, tiếng bass sâu và huyền ảo (nghe thường như trống của các bộ lạc thời xưa) , sử dụng rất nhiều âm thanh khác lạ không có trong thực tế. 130 – 140bpm. DJ : Sasha , John Digweed,... GOA & PSYCHEDELIC TRANCE: Goa và Psy rất giống nhau và rất khó phân biệt, dòng này được coi là nghe phiêu nhất trong tất cả các nhánh con của Trance, nhịp nhanh chậm thất thường, rất dễ phê và nếu như có thêm X vào thì đúng là lúc nào cũng như đang đi ở trên mây.Đây cũng là dòng được nhiều người nghe nhất DJ: Astral Project, Juno Reactor …. ACID TRANCE : bmp = 145+ , cực mạnh và nhanh, hay sử dụng trống của dòng progressive. Nhạc thường đều và không phiêu cho lắm. TRANCECORE: là sự kết hợp của Trance và Hardcore,bpm = 160+.Nói thật là khi nghe dòng này tôi có cảm giác hơi sợ sợ vì nó nhanh và âm thanh thì cứ như từ dưới địa ngục lên ấy ,nghe thảm thiết lắm,không dành cho ai yếu tim. Trance hiện nay ảnh hưởng nhiều của dòng underground, từ underground ở đây thật khó giải thích, nhưng theo tôi thì nó hơi Progressive một tẹo, âm thanh thì mix càng lúc càng phức tạp,những âm thanh từ máy tính và không thực tế ngày càng nhiều và nghe cũng phê hơn. Những Club nổi tiếng trên thế giới: Space – Ibiza , Spain Cream – Liverpool , UK Gatecrasher., UK Godskitchen, UK Matrixx – Amsterdam, The Netherlands Palazzo , Germany ClubSpace – Miami, USA ….. Đây là những club mà việc được chơi nhạc ở đây là một niềm vinh dự với bất cứ một DJ nào trên thế giới , nhờ những club thế này mà sự nổi tiếng càng được nâng cao. Các club này còn thường xuyên mở các dance event và worldtour để lăng xê tên tuồi của các DJ và CLUB. Dance Event(nơi hội tụ các DJ hàng đầu, thay nhau mix nhạc từ đêm hôm trước đến sáng hôm sau) nổi tiếng:. Nói đến dance event thì không một đất nước nào nhiều dance event hơn The Netherlands – Hà Lan Trance Energy: 2 lần trong 1 năm tại Hà Lan Sensation: đây là dance event lớn nhất của Hà Lan và trên thế giới , quy tụ rất nhiều DJ nổi tiếng, thường có 2 ngày cách nhau khỏang 1 tuần , 1 ngày gọi là Sensation White – tất cả từ DJ đến người xem đều mặc tòan đồ trắng,các thể loại được chơi hầu hết là Trance và các dòng con của Trance. Được tổ chứ 1 tuần sau đó là Sensation Black và màu đen là màu chủ đạo,thường chơi hardtrance , hardstyle, techno.. . . Love Parade: 1 năm 1 lần ở Đức , tòan nhạc techno và hardstyle Ngòai ra còn có Mystery land, Dance Valley, Q-Dance (hầu hết là hardstyle) ,Innercity (dòng underground) Shockers (techno) ở Hà Lan.. Sau khi các dance event này diễn ra khỏang 1 – 2 tuần thì CD cũng được release , nghe thích thú. Những CD nên nghe: Đầu tiên phải nói đến đó là Series Global Underground , đây là một Series hay và quy tụ một số DJ hàng đầu ở UK , họ đi khắp nơi trên thế giới: Hong Kong, Tokyo , Toronto, NewYork , Capetown , Sydney , Budapest , Oslo v.v…. đến nay series này đã ra được 25 compilation mix của các DJ nổi tiếng như Paul Oakenfold , Dave Seaman , Nick Warren , Deepdish v.v…. Nhạc này không khó nghe lắm nhưng hơi khó nhảy. Tiếp đó là series Trance của ID&T : ID&T Trance , mới ra được 5 compilation mix nhưng lại không phải do các DJ mix mà do người của bên ID&T Recording chọn các bài mới và hay nhất trong thời điểm đó và có một studio chuyên mix mix cho họ, rất hay , tớ thích lọat này nhất.. Cuối cùng là lọat Trance có lẽ có giá trị nghệ thuật cao và càng nghe càng hay và khi nghe hết các lọat CD này , đảm bảo bạn sẽ hiểu nhạc Trance là thế nào. Đó là các Compilation Mix của DJ Tiesto ,DJ số 1 thế giới hiện nay.. Đầu tiên là series Magik gồm có 7 volume Tiếp đến là Lost Treasure – 9 volume Forbidden Paradise – 3 volume In Search of Sunrise – mới có đến Volume 3 và chắc cuối năm nay hoặn đầu năm sau sẽ có vol 4 , đây là series tớ mê nhất và theo tớ thì là hay nhất trong các series của Tiesto. BIG BEAT: Big Beat, hoặc rave 'n' roll, là phong cách chọn lựa của các nghệ sĩ bán chạy hàng đầu như The Chemical Brothers và Fat Boy Slim. Loại nhạc này đã minh chứng rằng hình thức nhạc điện tử được các fan của dòng nhạc Pop tìm đến nhiều nhất. Big Beat chủ yếu được tạo ra bằng các sample và synthesizer giống nhau như là một hình thái khác của nhạc điện tử, nhưng các nghệ sĩ big beat có khuynh hướng vay mượn nhiều từ cách cấu trúc và tính đa cảm của ca khúc trong pop music. Các ca khúc thường dễ nhận thấy rõ đâu là phần mở đầu, thân bài và kết thúc. Chúng sẽ thường tập trung vào những đoạn nhấn mạnh - hook hoặc riff - thật đặc sắc. Ban nhạc The Chemical Brothers - Tom Rowlands và Ed Simons - được biết là đã phát triển âm thanh big beat từ khoảng đầu cho đến giữa thập niên 90 tại Anh. Họ là một nhóm nhạc vô danh khi bắt đầu lập nghiệp, chơi trong các CLB nhỏ và những rave trên các cánh đồng và các nhà kho, kết hợp các yếu tố house, hip hop và rock để tạo cho nhóm một thanh âm hoàn toàn mới. Ngày nay họ đã bán hàng triệu album trên khắp thế giới và thậm chí còn nhận được giải Trình Diễn Nhạc Cụ Rock Hay Nhất của Grammy 1998 qua ca khúc Block Rockin' Beats. "Thật khó nghĩ những thành phần nào của rock thực sự có trong Block Rockin' Beats", Rowland nói. "Chẳng có chút xíu rock nào cả, ko guitar, ko ca sĩ, tuy nhiên có ngừơi sẽ nghe thấy trong âm thanh đó có một tinh thần hoặc cái gì đó lơi lả hay đầy sức sống hoặc cũng có thể nhắc cho họ nhớ đến rock." "Khi chúng tôi biểu diễn ở Woodstock, ko có gì giống như những điều chúng tôi thường làm trên các sân khấu lớn. Và khi chúng tôi xuất hiện, cho dù đó là một hình thái hoàn toàn khác những gì người ta đang làm, mọi người thấy rõ thực tế là ko có ca sĩ và ko có nhạc sĩ guitar, và cũng ko có một biểu tượng âm nhạc cụ thể nào diễn ra trước mắt họ. Họ nghe tiếng trống nhưg ko thấy ai đánh trống. Trong một lúc, họ như bị trời trồng, ko ai hiểu hổi hiện tượng này." CHính vì vậy mà Big Beat còn thường được gọi là Rock điện tử, nhịp điệu khá nhanh, tiếng guitar và tiếng trống làm bằng máy móc nghe khá chói tai. DRUM 'N' BASS : Drum 'n' Bass là đứa con âm nhạc của reggae, hip hop và techno thời kỳ đầu. Loại nhạc này tiến hoá từ bối cảnh rave và techno của Anh vào đầu thập niên 90, trước khi đúc kết thành hình thức đang có bây giờ - breakbeats tăng nhanh (skitish, percussive patterns) chạy ở tốc độ 165 nhịp/phút, với âm thanh basslines nhộn nhạo, chậm còn phân nửa, nghe như tiếng kèn báo sương mù vang lên thăm thẳm bên dưới bề mặt của loại nhạc này. Dj Krust người Bristol (Anh) là một trong những nhà sản xuất drum 'n' bass quan trọng nhất thời bấy giờ. ANh cộng tác với Roni Size như một phần của Reprazent trong album năm 1997, New Forms (hãng Mercury) và cũng đã phát hành album solo đầu tay của mình Coded Language. "Drum 'n' bass là loại nhạc có breakbeat mạnh mẽ dứt khoát", anh trả lời khi được yêu cầu định nghĩa âm thanh này, "nó nặng hơn house và techno một chút. Chúng ta có nhiều điểm đối chiếu khác nhau, từ hip hop đên reggae và funk". Một dj có thể (và đôi khi thực hiện) trộn một đĩa house, một đĩa techno vào một đĩa trance, khi chúng có thể tình cờ cùng một tempo. Nhưng drum 'n' bass thường bắt đầu khởi động với một nhịp độ quá năng nổ đến mức ko thề hoà trộn với bất cứ thể loại nào khác ngoài chính nó. Do đó, thể loại con này đã phát triển thành một bối cảnh riêng biệt, bầu ko khí và tính thẩm mĩ gắn bó chặt chẽ với nhạc hip hop và nhiều hơn bất kỳ bối cảnh âm nhạc điện tử nào khác. Trong các CLB hoặc các rave, drum 'n' bass thường có một sân khấu trình diễn riêng cho nó, nếu ko có được một CLB hoặc party riêng biệt hoàn toàn. Từ khi được ra mắt, drum 'n' bass đã vỡ thành một số nhánh riêng của nó, bao gồm tech-step rời rạc, chịu ảnh hưởng techno và jump-up thật đậm tiếng bass, nổi tiếng vì những sample hip hop của nó. "Có quá nhiều nhánh khác nhau đến nỗi nó kéo theo nhiều giới thưởng thức khác nhau ở mọi nơi", Krust giải thích. "Bạn có phong cách êm ả của Bukem, có phối âm soạn cho đàn dây của Goldie, và rồi bạn có những chuỗi vị chất lai của tôi. Kế đó bạn có những gì mang chất jazz của Reprazent, và jump up từ Aphrodite. Đó là 5 phong cách khác nhau, làm sao bạn có thể ko thích nó được cơ chứ!". Dance và Electronica, mọi người thường gộp chung 2 thể loại này làm 1 dưới cái tên: Nhạc Dance! Nhưng thật ra, ta có thể chia Dance và Electronica ra làm 2 phong cách khác nhau! Xét về Dance, hình thức của nhạc Dance rất đa dạng, từ disco cho đến hiphop. Trong lịch sử âm nhạc đại chúng, nhạc Dance đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, và đến giữa những năm 70 thì thể loại này đã thực sự tìm được một chỗ đứng riêng bên cạnh các thể loại nhạc phổ biến khác. Những giai đoạn chuyển tiếp từ thể loại R'n'B của thập niên 50 sang nhạc Soul và rồi Funk và cuối cùng là thể loại Dance Pop trong những năm 90 cho thấy nhạc Dance được hình thành trong thời kỳ nhạc Soul biến đổi thành nhạc khiêu vũ (disco) và toàn bộ các CLB đều chú trọng đến phong trào này. Vào những năm cuối thập niên 70, tất cả các CLB khiêu vũ đều chơi nhạc disco, nhưng sau đó disco được biến thể thành nhièu thể loại khác nhau và tất cả đều được gọi chung bằng một từ rất hấp dẫn: dance - nhạc nhảy, dù đó là dance pop, hip hop, house, techno hay bất cừ điệu nhạc biến thể nào. Điểm chung nhất của các biến thể này là sự nhấn mạnh về tiết tấu và sự phối nhịp luôn là điều quan trọng trước tiên phải quan tâm đến. |
| | |
| Những người gởi lời cám ơn tới DJ gà vì bài viết hay : |
| | #2 (permalink) |
| † Địa Ngục Trần Gian † Gia nhập: Jan 2006 Nơi cư ngụ: CầnThơ ViệtNam
Bài gởi: 8,527
Thanks: 1
Thanked 386 Times in 298 Posts
| Làm Nhạc Bằng Virtual DJ: DJ được viết tắt bởi từ Disc Jockey là những người rất am tường về âm nhạc có khả năng tổng hợp được những âm thanh vô nghĩa như: tiếng ly vỡ, âm thanh của gió, mưa,... vào trong một bài hát nào đó làm cho chúng trở nên sinh động, lôi cuốn đến lạ thường. Việc trở thành một DJ là cả một quá trình tập luyện khó khăn, gian khổ và rất tốn kém. Nhưng nếu bạn có chương trình Virtual DJ thì mọi việc sẽ trở nên dễ dàng hơn. Virtual DJ là một chương trình giả lập bàn máy mix nhạc của các dân DJ chuyên nghiệp. Tuy giả lập nhưng âm thanh tạo ra sẽ rất ấn tượng. Virtual DJ phục vụ tất cả những người từ chưa biết gì đến dân chuyên nghiệp. Thao tác lại rất dễ dàng. Bạn hãy thử xem. Việc sử dụng vô cùng đơn giản. Bạn chỉ việc chọn bài hát và kéo tập tin âm thanh lần lượt vào hai đĩa trái và phải. Sau đó bạn hãy nhấn nút Play để phát. Để mix nhạc thì bạn dùng chuột đặt lên đĩa và kéo nó đi sẽ tạo ra những tiếng động lạ tuỳ theo bài hát. Bạn có thể nhấn nút Automix nằm trên cùng của giao diện chương trình để Virtual DJ có thể tự động trộn hai bàt hát với nhau. Chuyên nghiệp hơn, Virtual DJ còn thiết kế sóng âm thanh mix đặt ngay màn hình chính để bạn có thể điều chỉnh được tần số âm thanh cũng từng bài hát. Và Virtual DJ còn có thể giúp bạn lưu lại tác phẩm của mình bằng cách nhấn nút REC sẽ xuất hiện giao diện sau. Bạn hãy nhấn vào hình tờ giấy và chọn nơi lưu trữ. Virtual DJ sẽ nén tác phẩm của bạn dưới dạng thông dụng là MP3. Bạn chỉ cần nhấn Start Recoding và sau đó thể hiện tài năng của mình. Chương trình còn nhiều tính năng rất hay phục vụ những người thật sự am hiểu về việc mix nhạc, bạn cố gắng tìm hiểu nhé ! Bạn có thể tìm thấy chương trình này tại website: http://www.virtualdj.com/ được cung cấp dưới dạng dùng thử. Download FULL Soft Virtual DJ v5.0 + Skin/SoundEffect: Link: http://www.mediafire.com/?tm90mhnimu0 Tiếp nối AtomixMP3, VirtualDJ là một chương trình kết hợp (mix) MP3 nhắm vào các tất cả các DJ từ DJ “phòng ngủ” đến những DJ chuyên nghiệp như Carl Cox và được sử dụng hàng ngày bởi hàng triệu DJ trong các câu lạc bộ nổi tiếng. Nó nổi bật bởi kỹ thuật BeatLock, giúp những bài hát của bạn đúng điệu và hỗ trợ bạn tạo ra các đoạn nhạc nhanh hơn hẳn những DJ khác. Với kỹ thuật “automatic seamless loop engine” và “the new synchronized sampler” bạn sẽ tạo được những đoạn nhạc hay ngoài sức tưởng tượng của mình. VirtualDJ hoành toàn tương thích với các loại công cụ khác phục vụ cho công việc của một DJ. Chương trình có nhiều giao diện khác nhau dành cho người mới và các nhà chuyên nghiệp, thu những đoạn nhạc và burn chúng ra CD, tạo riêng cho bạn Internet radio, tự động kết hợp các playlist, sử dụng các hiệu ứng VST, và hiển thị karaoke. Chức năng: * Kỹ thuật BeatLock cho phép bạn chơi nhạc đúng điệu và nhanh hơn bao giờ hết. * Automatic seamless loop: giúp bạn tạo các đoạn nhạc hoàn hảo mà không cần phải có sự chuẩn bị nào. * Synchronised sample machine: giúp đỡ bạn trong khả năng sáng tạo của mình. * Clear song structure visualization: không bao giờ bị sự gián đoạn làm phiền nữa. * Video mix: kết hợp và chơi nhạc trong video với nhạc của bạn. * Vinyl control: Lướt MP3 từ một mặt quay thật sự. * Và nhiều điều thú vị khác đang đợi bạn… Cấu hình đề nghị: - Máy với PIV 1.2 GhZ - 1024x768 SVGA video - 4.1 DirectX compatible soundcard (with front and rear separate outputs) - 512 MB RAM - Ít nhất 20 MB trống trên ổ cứng. ![]() Last edited by DJ gà; 27-02-2009 at 07:27 PM. Lý do: Nguyên văn bởi DJ gà |
| | |
| | #3 (permalink) |
| † Địa Ngục Trần Gian † Gia nhập: Jan 2006 Nơi cư ngụ: CầnThơ ViệtNam
Bài gởi: 8,527
Thanks: 1
Thanked 386 Times in 298 Posts
| Tổng Quan Về Automix Virtual DJ: Đây chính là giao diện chính của chương trình, với các nút lệnh và công cụ cần thiết đã được chú thích trên hình, Skin mà chúng ta thấy ở đây không phảI là Skin mặc định của Virtual DJ khi mới cài vào, nhưng về cơ bản thì những nút lệnh cũng tương tự như nhau dù rằng vị trí các nút lệnh ở mỗI Skin sẽ được bố trí khác nhau và số lượng nút lệnh cũng vậy, tuy nhiên vấn đề mà chúng ta cần quan tâm là sử dụng các nút lệnh đó như thế nào đó mớI là điều quan trọng. Trong hình trên có tất cả là 8 nhóm công cụ tương ứng với các tác vụ như sau: 1. Auto Mix 2. Loop 3. Cân bằng Tempo 4. Sample 5. Chuyển đổI 6. Music 7. Option 8. Cue II/ CÁC NHÓM CÔNG CỤ CHÍNH VÀ CHỨC NĂNG 1/Automix:chức năng mix nhạc tự động (Hot key = Atl + Space) thường được sử dụng để mix None Stop 2/Loop : có các nút lênh được đánh dấu lần lượt từ ¼ đến 128 đó chính là số nhịp tương ứng sẽ được lặp lại khi ta nhấp vào từng nút lệnh riêng biệt. Ví dụ như ta muốn Loop 1 đoạn Bass 4 nhịp thì ta nhấp vào nút số 4, sau khi nhấp thì cứ đúng 4 nhịp (tính từ thời điểm mà bạn nhấp) thì đoạn Bass mà bạn chỉ định sẽ được lặp lại. 3/ Magic Beatlock: có nút lệnh hình ngôi sao đó chính là công cụ để giúp cân bằng Tempo giữa 2 đoạn nhạc mà bạn mix, có thể được dùng để mix None Stop, hoặc cũng có thể dùng để remix nhạc, khi bạn nhấp vào nút hình ngôi sao ấy thì chương trình sẽ tự động cân bằng Tempo giữa Track mà bạn vừa điều chỉnh với Track đang được phát, giúp cho việc 2 đoạn nhạc được trôn vào nhau được hòa hợp tốt hơn và chuyên nghiệp hơn. 4/Sample: chính là các nút lệnh được đánh số từ 1 đến 12 tương ứng vớI 12 Sample được nạp sẵn trong chương trình, có thể có nhiều hơn 12 Sample trong bộ cài đặt của chương trình, nhưng mặc định thì chỉ có thể add được tốI đa 12 Sample vào cửa sổ điều chỉnh Sample nên việc lựa chọn Sample nào vừa ý để add vào là tùy thuộc vào bạn. Để kích hoạt các Sample thì bạn sẽ bấm chuột vào tên số của từng Sample hoặc dùng các phím tắt từ F1 đến F12 tương ứng với 12 Sample được nạp vào theo thứ tự. 5/Chuyển đổi: chính là các nút lệnh tượng trưng cho việc chuyển đổi qua lại giữa các cửa sổ lệnh, các cửa sổ lệnh đó bao gồm: Add Music, điều chỉnh Effect, điều chỉnh Sample và Record. 6/Music: chính là các Track music mặc định được nạp sẵn vào chương trình khi mới cài đặt, bạn chỉ việc nhấp đúp vào chúng để add vào 2 đĩa nhạc. 7/Option: chính là mục Option của chương trình, bất kỳ 1 phần mềm nào cũng vậy việc nắm vững được mục này cũng rất quan trọng, bạn có thể vào đó để tinh chỉnh cho chương trình hoạt động theo ý của bạn. 8/ Cue: chính là các nút lệnh được đánh dấu từ 1 đến 6 nó tương ứng với 6 đoạn nhạc mà bạn đã lọc ra có nghĩa là trong 1 bài nhạc thông tường nó sẽ được phát từ đầu đến cuối, nhưng nếu bạn muốn cho nó bắt đầu ở đoạn nào thì chỉ việc bấm vài từng nút lệnh trên nhóm công cụ để chỉnh định, nếu lần thứ nhất bạn đã bấm nút số 1 rồi thì lần thứ phải bấm 1 số khác, nếu không nó sẽ tự động thay thế giá trị đã có trước đó mà bạn đã thiết lập. III/ CÁC THAO TÁC CHÍNH ĐỂ MIX NHẠC: Trước tiên bạn cần phải vào mục Option để điều chỉnh những thông số cần thiết cho chương trình như sau: trong đó bao gồm các thông số để tinh chỉnh Sound Card, tùy biến các phím tắt cho chương trình, lựa chọn Skin và 1 số thông số khác. Sau khi đã tinh chỉnh xong bạn nhấn OK để trở vể cửa sổ chính của chương trình, bây giờ bạn cần thiết đặt cho mục Record Bạn nhấn vào nút Config để cấu hình cho File âm thanh được xuất ra sau khi mix trong mục Record from bạn cần chỉ định cho chương trình hiểu là nó sẽ thu âm từ những nguồn nào tương ứng với 3 nguồn như trên. Nếu bạn Check vào ô Auto Start thì ngay khi bạn khởi động vào chương trình nó sẽ tự động thu vào tất cả những gì mà bạn đã thao tác Bạn cần đặt tên cho File âm thanh xuất ra trong ô File và lựa chọn định dạng cũng như Plugin tương ứng cho từng định dạng file trong ô Encoder và Bitrate. Xong bấm OK a. MIX NHẠC THEO PHONG CÁCH NONE STOP: Sau khi đã hoàn thành xong những thiết đặt cơ bản cho chương trình bạn sẽ bắt đầu công việc của mình,trở lại cửa sổ chính của chương trình và bấm vào biểu tượng để add những track cần mix vào trong chương trình Sau khi đã add xong bạn sẽ thấy được trong cửa sổ làm việc chính sẽ xuất hiện tên của các Track đã add Bạn chỉ việc nhấp đúp vào chúng để Add chúng vào 2 đĩa nhạc để tiến hành công việc của mình. Sau khi add xong bạn hãy trở lạI cửa sổ Record và nhấn vào nút Record để chương trình bắt đầu ghi âm,cuối cùng nhấp vào nút Play để phát bài nhạc. Khi bản nhạc đầu tiên đã được phát trên đĩa 1 thì bạn cần Add thêm 1 Track nữa vào đĩa 2 để chuẩn bị cho giai đoạn chuyển Track sao cho thật chuyên nghiệp. Add vào xong bạn cần nhấp vào nút lệnh Magic Beat Lock (Shift + (hình ngôi sao) để chương trình tự động cân bằng Tempo cho 2 Track và khóa chúng lại, bạn sẽ không điều chỉnh được thanh trượt điều chỉnh Tempo khi chức năng Magic Beatlock đã được kích hoạt. Mọi công việc đã sẵn sàng ta chỉ còn chờ thờI điểm thích hợp để chuyển Track, về việc chuyển Track hay và chuyên nghiệp hay không thì hoàn toàn phụ thuộc vào “tay nghề” của bạn, nếu bạn cho chuyển Track 1 cách tự động thi 2 nút lệnh hoặc bấm tổ hợp phím Alt +Space thì chương trình sẽ tự động kéo thanh trượt điều chỉnh âm lượng của 2 đĩa từ từ sao cho có hiệu ứng 2 Track lồng vào nhau sau đó Track 1 sẽ nhỏ dần và Track 2 sẽ lớn lên cho đến khi Track 1 ngừng hẳn, nếu bạn không thích cho chuyển Track 1 cách tự động thì có thể tự điều chỉnh bằng cách kéo chuột, vì theo mặc định thì chức năng Automix chỉ có tác dụng trong 1 khoảng thời gian nhất định mà điều đó thì sẽ không phú hợp với phong cách mix của từng người khác nhau. Cứ như thế bạn chuyển Track liên tiếp tạo thành 1 đoạn None Stop, bạn mix tới đâu chương trình sẽ thu âm vào tới đó, ngoài ra trong quá trình chuyển Track hoặc là ở những điểm nhấn của bài nhạc bạn có thể chuyển sang cửa điều chỉnh Sample để Add thêm 1 số Sample vào trong bài nhạc cho thêm phần sinh động, bạn cũng có thể sử dụng phím tắt ( từ F1 đến F12) để add chúng vào, sau khi hoàn tất công việc bạn nhấp vào nút Stop để dừng phát nhạc và chuyển sang cửa sổ Record nhấp vaò nút Record 1 lần nữa để ngừng thu, sau cùng thoát khỏi chương trình và tận hưởng thành quả của mình. b. SƠ LƯỢC CÁCH REMIX NHẠC: Với những bài nhạc đã được hòa âm sẳn mà bạn muốn mix lạI thành 1 thể loại khác thì công việc có phần phức tạp hơn, đặt trường hợp ở đây là bạn cần mix cho 1 bài nhạc nhẹ thành 1 bản Dance sôi động thì cái mà bạn cần đầu tiên đó chính là tiết tấu Bass sôi động, bạn có thể trích dẫn tiếng Bass từ 1 nguồn nào đó, hoặc là bạn cũng có thể dùng các phần mềm chuyên dụng để viết ra 1 đoạn Bass cho riêng mình như Fruity Loops…sau khi đã có được đoạn Bass rồI thì bạn hãy add chúng vào đĩa 1, add tiếp bản nhạc nhẹ vào đĩa 2, bấm Shift B để cân bằng Tempo cho 2 Track Công việc bây giờ là tùy thuộc vào “tay nghề” của bạn nếu đoạn bass của bạn được trích lọc từ 1 nguồn nào đó thì bạn hãy dùng chức năng LOOP của chương trình để chọn lấy cho mình 1 đoạn Bass ưng ý nhất và cho chúng lặp lại liên tục trong qua trình mix, cái bạn cần quan tâm nữa đó chính là các hiệu ứng trong qua trình mix bạn bấm nút để chuyển sang cửa sổ điều chỉnh hiệu ứng: hãy kéo và thả các hiệu ứng cần thiết vào cửa sổ điều chỉnh H.1 thông thường các hiệu ứng mặc định sẳn có trong chương trình cũng tạm đủ để bạn sử dụng, nhưng nếu sử dụng thêm nhiếu hiệu ứng khác thì bài mix sẽ sinh động hơn, nhưng cần phảI sử dụng đúng nơi đúng chỗ thì mới phát huy được hiệu quả Một số hiệu ứng rất cần thiết như Vocal+ dùng để ngắt nhịp Bass và TK Fiter V2 Dùng để pha ra nhiều kiểu Bass khác nhau tương thích với nhiều phong cách mix khác nhau ngoài ra bạn còn có thể nghiên cứu và tận dụng thêm các hiệu ứng như Flanger, Flippin Double,,,,,v,,v,,, vấn đề đó tùy thuộc vào sở trường và phong cách mix của bạn. Cách trên là áp dụng cho đoạn Bass được lấy từ 1 nguồn riêng biệt, còn với đoạn Bass mà bạn tự viết ra cho bản nhạc nhẹ thì bạn khỏi cần sử dụng chức năng LOOP mà chỉ việc bổ sung thêm hiệu ứng trong quá trình mix. Trong khi mix việc sử dụng thêm các Sample cũng là 1 điều rất cần thiết, nói chung bạn phải khéo léo hơn rất nhiều so với mix None Stop, bạn phải vận dụng làm sao cho bản nhạc sau khi mix phải khác với bản nhạc gốc, có như vậy mới gọi là remix. Sau khi bạn mix xong thì cũng giống như mix None Stop bạn hãy thoát khỏi chương trình và xem lại thành quả của mình, rất có thể sau khi mix xong nghe lại bạn sẽ phãi ngạc nhiên vì tài năng của chính mình đấy! Chúc các bạn thành công. |
| | |
| | #4 (permalink) |
| † Địa Ngục Trần Gian † Gia nhập: Jan 2006 Nơi cư ngụ: CầnThơ ViệtNam
Bài gởi: 8,527
Thanks: 1
Thanked 386 Times in 298 Posts
| Hướng Dẫn Mixing Cơ Bản: 1_ Dụng cụ cho DJ: _ Truớc hết, để có thể mix 2 bài hát bạn cần có 2 nguồn âm thanh. Trước giờ, DJs sử dụng một cặp Turntables (Bàn Xoay) hoặc một máy chơi CD 2 hộc (ta hay gọi là CDJ). Hiện nay, phần mềm mới được giới thiệu ra thị trường đồc chơi DJ có khả năng chơi MP3 Player. Những công cụ chỉnh nhạc (DJ Players) đc thiết kế chuyên biệt cho việc phối âm (mixing). DJ players ít nhất phải có khả năng điều chỉnh tốc độ của bài hát (đc hiểu là Pitch Control) và đánh dấu các điểm trên bài hát (đc hiểu là CUE points). Tiếp theo, bạn cần một thiết bị hòa âm (audio mixer). Đây có thể là một mixer console thật hoặc là một phần mềm giả lập. Mixer là trung tâm của cả hệ thống DJ và là nơi những bài hát hòa quyện lại với nhau. Cuối cùng, bạn cần một cái amply kèm theo một cặp loa và một cái tai nghe. Nếu bạn mới tập làm DJ và ko muốn đầu tư vào thiết bị chuyên nghiệp bạn có thể dùng máy tính của mình để thay thế. Đó là sự thật, tất cả những gì bạn cần để bắt đầu ngay là một vài phần mềm hay, bạn có thể mua chúng dưới 200$ kèm theo một MP3 player 2 hộc cùng với một mixer ảo bên trong và các chức năng như là pitch control và CUE point (như đã nói ở trên) Làm sao nối hệ thống chỉnh nhạc nếu ta ko xài máy tính: - Nối ngõ output của thiết bị thứ nhất vào ngõ input 1 của mixer ( hoặc line 1) - Nối ngõ output của thiết bị thứ hai vào ngõ input 2 của mixer (hoặc line2) - Nối tín hiệu output của mixer đến tín hiệu input của amply (thường gọi là ngõ AU - Cắm tai nghe vào mixer. Bạn cũng có thể dùng máy tính với một mixer gắn ngoài. Đặc biệt nếu bạn có sound card với 4 ngõ ra . Hầu hết sound card hiện nay đều chức năng này. Hoặc là bạn có thể gắn 2 sound card vào máy tính. 2_ Phân tích bài hát: _ 99% các bài hát có cùng một cấu trúc như nhau. Một bài hát bắt đầu bằng phần intro và kết thúc bằng phần Exit (hay còn gọi là outtro). Những phần này chỉ có tiếng nhịp trống hoặc tiếng nhạc phát ra mà ko có lời. Đây thường là “sân chơi” của DJ. Là nơi tất cả sự phối hợp, hòa trộn (mixing) diễn ra. _ Hình trên minh họa một bài hát ![]() I: Intro. V1,V2: Verse. R: Refrein. S: Solo. E: Exit. Djs tính độ dài của mỗi phần bằng số lượng nhịp trống đập. Quy luật “theo nhịp đập” áp dụng cho hầu hết các bài hát. Cố gắng đếm các nhịp đập trong mỗi phần và đưa 4 nhịp đập thành một nhóm 1-2-3-4…1-2-3-4…1-2-3-4…1-2-3-4 Thông thường độ dài của phần Intro, Refreins, Solo và Exit là 32 nhịp đập (8 lần đếm 1-2-3-4). Phần Verse là 64 nhịp đập mỗi phần. Đôi khi phần intro là 2 x 32 hoặc 3 x 32. Trong tất cả các trường hợp là bội số của 32. Cũng có một vài ngoại lệ như có nhưng phần chỉ có 16 nhịp đập giữa phần Refrein và phần Verse 2. Bài hát đuợc gọi là Track khi đuợc đưa vào máy. 3_ Mixing căn bản: _ Ý tưởng căn bản là bắt đầu chạy track 2 trứơc khi kết thúc track 1 trong khi vẫn đang tiếp tục chơi. Vấn đề của DJ là khởi động track 2 với kết thúc track 1 thật chính xác, đồng bộ. Điều này thể hiện sự quan trọng trong việc hiểu rõ phân tích bài hát (phần 2). Ta đã thấy rằng phần intro của track 2 là 32 nhịp đập. Trên tay còn lại, phần exit của track 1 cũng có 32 nhịp đập. Thật lý tưởng, chúng ta cần kết hợp nhịp 1 của phần exit của track 1 với nhịp 1 của phần intro của track 2. Hình ảnh trên cho thấy một sự kết hợp hòan hảo. Graduation shows the beats (ko bít dịch sao để hiểu nữa. hic) Về vấn đề này ta phải đối diện với 2 khó khăn: _ Điều chỉnh track 2 làm sao để bắt đầu thật chính xác trên nhịp 1 khi chúng ta bấm nút PLAY. Bứơc này gọi là xác định điểm CUE và đc chuẩn bị (nghe trước trong tai nghe) trong khi track 1 vẫn đang đc chơi. _ Điều chỉnh tốc độ của track 2: như vậy sẽ cho phép track 2 bắt đầu chính xác trên nhịp đập 1 của phần Exit của Track 1. Nếu tốc độ hoặc nhịp độ của track 1 nhanh hơn track 2, track 1 sẽ kết thúc truớc khi track 2 kết thúc phần intro. Cho nên bạn phải đồng bộ nhịp điệu của các tracks và điều này đc gọi là đồng bộ BMP (nhịp đập mỗi phút) 4_ Điểm CUE: _ Nhằm mục đích bắt đầu track 2 tại thời điểm mong muốn (nhịp đập 1 của track 1) và kết hợp với nhịp đập đầu tiên, track 2 nên được đặt tạm ngừng và để sẵn sàng chơi ngay lập tức. _ Trên Turntable (bàn xoay), nghe track 2 từ đầu và chờ đến nhịp đập thứ nhất. Sau đó giữ Vinyl trên cần edge (cái này ko biết rõ lắm vì chưa xài ko biết nói vậy đúng ko). Turntable nên để turning (có thể là cái cần xoay) ở dưới (dùng slipmat chèn giữa turntable và Vinyl để giảm bớt sự ma sát). Bạn có thể nhích nhẹ lên hoặc xuống Vinyl để đặt kim vào vị trí bắt đầu beat1. Khi track 1 vào phần exit, thả track 2 ra và nhịp đập sẽ kết hợp với nhau. Việc này đòi hỏi một số luyện tập lúc bắt đầu sau đó mọi việc sẽ trở nên tự nhiên hơn. _ Trên máy CDJ hoặc phần mềm chơi MP3, nghe track 2 từ đầu và nhấn nút CUE khi bạn nghe nhịp đập thứ nhất. Lúc đó máy sẽ ở chế độ CUE. Nghĩa là nó sẽ ngừng track và đánh dấu phần lặp lại ở giây sau cùng của đoạn nhạc * để cho bạn biết vị trí chính xác của CUE. Sau đó bạn có thể di chuyển về trước hoặc sau để tăng độ chính xác bằng cách dùng JOG (cái miếng tròn tròn nhỏ nhỏ trên CDJ. ^.^ - có một số CDJ ko có cái này). Jog sẽ cho bạn xác định vị trí cực kỳ chính xác điểm CUE tại nơi bắt đầu beat 1. Một số thiết bị chơi chuyên nghiệp có tính năng tự động CUE vì thế nó có thể tự động tìm nhịp đập đầu tiên cho bạn và ngừng ngay tại điểm đó. Một số khác ghi nhớ lại điểm CUE mà bạn đặt vì thế khi bạn chơi những track giống nhau, điểm CUE sẽ tự động đc chọn. Một vài loại có thể ghi nhớ nhiều điểm CUE trên mỗi bài hát. Cuối cùng, khi track 1 vào phần Exit, thả Track 2 và nhịp phải đuợc kết hợp đồng thời. _ Hình minh họa cho thấy vị trí chính xác nơi điểm CUE cần đuợc đặt trên track 2 ![]() _ Bước tiếp theo là điều chỉnh tốc độ nhịp đập của Track1 và Track2 khớp với nhau. * có thể hiểu là phần mình đã đuợc nghe - tiếng beat1 - vì về sau có thể đặt CUE point tại các chỗ khác ko riêng gì beat1 của intro. 5_ Điều khiển Pitch: Định nghĩa BPM: (viết tắt của cụm từ Beats Per Minute) Số nhịp đập trên mỗi phút. Số BPM thể hiện lại nhịp độ của bài hát. Còn gọi là tốc độ. Thông thường trong Disco, Dance, và Techno, BPM thường nằm giữa 110-150. Trance thì có số BPM cao hơn House hoặc Disco và House thì có số BPM cao hơn là Hip-Hop. _ Khi 2 tracks đang được chơi, và nhịp đập đầu tiên đã đuợc đồng bộ. Tốc độ của Track 2 có thể đuợc điều chỉnh để giữ sự đồng bộ. Thực tế là, giữa 2 tracks ko phải lúc nào cũng có cùng số BPM. Trên các thiết bị chuyên nghiệp, DJ có thể thấy được số BPM đuợc tự động xuất ra trên màn hình. Số BPM sau đó có thể đuợc ghi nhớ lại trong máy. Một số phần mềm đếm số nhịp đập và tính toán số BPM cho bạn nhưng chậm và ko thật chính xác. (nhưng tui vẫn dùng vì mình đếm nhiều khi còn ko chính xác hơn. Hi hi) _ Ko nên dựa vào số BPM có đuợc trên màn hình, thực ra những DJ chuyên nghiệp ko sử dụng cái đó. Họ thích mix theo cảm hứng. Đó là lý do tại sao trên Turntable ko có cái đó. Ý tưởng chính là làm sao để có chung số BPM của 2 bài hát trước khi mở Volume của track 2. Vì thế nếu nhịp đập ở track 2 nhiều hơn bạn nên giảm xuống và nếu nó chậm bạn nên tăng nó lên. Ví dụ này cho thấy trường hợp Track 2 quá chậm. Nó cần đuợc tăng lên để có thể bặt nhịp cùng track 1. Nếu ko track 1 sẽ kết thúc trước khi mở đầu phần Verse 1 của Track 2. ![]() _ Việc tăng, giảm đc thực hiện bởi thanh điều khiển Pitch. Thông thường bạn có thể điều chỉnh Pitch thêm hoặc bớt 12%. Giá trị cao hơn 12% nên bỏ qua vì điều đó rất dễ làm hỏng bài hát. _ Pitch cần được điều chỉnh chậm rãi và liên tục (ko phải là lúc nào cũng chỉnh mà là đã kéo thì phải kéo cho hết ko đuợc ngưng) khi volume được bật lên. Nếu ko bạn sẽ phải nghe nhưng tiếng méo mó như cuộn băng cũ phơi dưới nắng (có thể là effect mới chăng!?). _ Đôi khi số BPM ngang nhau rồi thế nhưng vẫn còn delay (chậm) nhỏ giữa nhịp đập của track 1 và track 2. Trong trường hợp này thì phải thao tác để sử dụng nút Pitch Bend ( + và - ) để tạm thời tăng hoặc giảm Pitch mà ko cần phải điều chỉnh đồng bộ số BPM chỉ cần bạn giữ lên các nút. Khi bỏ tay ra, Pitch sẽ trở về giá trị trước. Ko phải máy nào cũng có Pitch Bend. Nó cho phép bạn tăng hoặc giảm pitch mà ko bị mất sự đồng bộ. _ Điều chỉnh Pitch được xác định là phần khó nhất của việc MIX. Khi bạn thành công trong việc này bạn có thể bắt đầu công việc mix và mix đuợc hầu hết các thể loại nhạc. |
| | |
| | #5 (permalink) |
| † Địa Ngục Trần Gian † Gia nhập: Jan 2006 Nơi cư ngụ: CầnThơ ViệtNam
Bài gởi: 8,527
Thanks: 1
Thanked 386 Times in 298 Posts
| Ngành DJ (nghề chỉnh nhạc) đang được giới trẻ tìm đến học. Yêu cầu có sự quan tâm và năng khiếu nhất định. "Nhập môn" rất dễ lĩnh hội, một nghề dường như nhàn hạ, có cảm giác như người làm không có muộn phiền gì. |
| | |
| | #10 (permalink) | |
| † Địa Ngục Trần Gian † Gia nhập: Jan 2006 Nơi cư ngụ: CầnThơ ViệtNam
Bài gởi: 8,527
Thanks: 1
Thanked 386 Times in 298 Posts
| Trích dẫn:
Sao lại gọi là UnderGround? Underground là một thuật ngữ theo nghĩa bóng là những thứ gì hơi illegal một chút. Như kiểu tổ chức dance event mà ko có giấy phép của Sở văn hoá ấy.Rất dễ hiểu phải không? Còn về phần underground music, theo mình biết các DJ và người nghe ở HN hay truyền tụng nhau về dòng underground nhưng thực chất nó chỉ là gồm tribal house, progressive house, tech-house, techno.... là những thứ mà ở các club HN và các DJ hiện nay rất thích nên họ đặt cho cái tên như thế. Rộng hơn Underground music có thể gồm có alternative rock, nu-metal, hip-hop, r''n''b.... thậm chí cả pop, nó sẽ là những hits hot nhất ko phải chỉ ở trên các phương tiện media thông tin đại chúng mà còn là của một sub-culture nào đó mà đại đa số dân tình trong cái tiểu văn hoá đó rất thích và ưa chuộng mà những ngoại đạo thường ko hiểu và ko biết | |
| | |
![]() |
| Đang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
| Công Cụ | |
| |
| I4vn - Interner For Vietnamese | |